1. Giới thiệu chung
Thép không gỉ được định nghĩa là hợp kim sắt có chứa ít nhất 10,5% crôm. Hợp kim với đủ crôm, thép hấp thụ oxy từ không khí (hoặc từ dung dịch nước có ngậm khí) để hình thành và duy trì một lớp oxit crom mỏng trong suốt Màng oxit crom mỏng nhưng dày đặc hình thành trên bề mặt của thép không gỉ cung cấp khả năng chống ăn mòn và ngăn ngừa quá trình oxy hóa. Bất cứ điều gì ngăn chặn sự tiếp cận của oxy trên bề mặt thép không gỉ (bụi bẩn, dầu mỡ, sơn, lớp phủ, vv) cản trở đến sự hình thành của lớp oxit thụ động sẽ dẫn đến làm giảm chống ăn mòn cục bộ. Các lớp hình thành một cách tự nhiên khi môi trường là đủ giàu oxy hóa. Các khuyết tật trên bề mặt kim loại (ví dụ như vết trầy xước) thụ động hóa lại một cách tự nhiên. Oxit crom là thành phần chính của lớp thụ động của thép không gỉ.
Các đặc tính cơ học của thép (chống ăn mòn, khả năng hàn, vv) chủ yếu được xác định bởi cấu trúc micro của nó. Điều này được xác định bởi thành phần hóa học của thép.
Theo EN 10088, thép không gỉ có
thể được chia thành 4 nhóm đưa ra dưới đây phụ thuộc vào cấu trúc micro cơ bản :
•
Các thép ferrit và ferritc-martensit
•
Các thép Martensit và các thép tôi cứng kết tủa
•
Các thép austenit
•
Các thép Austenit-ferrit (duplex)
Theo ASM, có năm loại thép không gỉ phụ thuộc vào những bổ sung hợp kim khác
có mặt, và chúng phạm vi từ hoàn toàn Austenit tới hoàn toàn Ferit :
•
Các thép không gỉ Austenitic
•
Các thép không rỉ Ferit
•
Các thép không gỉ Mactenxit
•
Các thép không gỉ Duplex
•
Các thép không gỉ
tôi cứng kết tủa